Thế nào là Chân tu ?

Vào thời Phật có một người bị đắm thuyền, khi anh ta cố sức lội vào đến bờ thì quần áo đều bị nước cuốn đi hết. Anh lấy vỏ cây để che thân. Khi dân chúng thấy hình dạng của anh như vậy họ tỏ lòng cung kính vì cho anh là bậc A-la-hán.

Thời xưa là như vậy, ngày nay còn cách đánh giá người qua vẻ bề ngoài nông cạn như vậy không? Chắc chắn là còn và cái cách tôn sùng còn trầm trọng hơn.
Có lần Đức Phật hỏi đệ tử của một giáo chủ: “Thầy ông giảng về căn tu tập như thế nào? Thưa tôn giả Gotama, thầy tôi dạy ‘Không thấy sắc với mắt, không nghe tiếng với tai’. Đức Phật nói: “Nếu vậy người mù sẽ là người có căn tu tập. Người điếc sẽ là người có căn tu tập”. Người này nghe vậy cúi đầu, hổ thẹn.
Theo Đức Phật, người có căn tu tập là tu tập ở nơi tâm. Khi mắt, thấy, tai nghe … dù thích, không thích đối tượng, vị ấy không chấp thủ vào đó và giữ tâm xả. Đối với, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn cũng có tâm xả như vậy.

thế nào là chân tu
Thế nào là chân tu

Phật Pháp nếu được nhận thức theo kiểu tu tập hình thức thì không gọi là trí tuệ. Với cách giải thích về căn tu tập của Đức Phật thì một hành giả thực sự có tu tập phải có sự tu tập từ nơi thấy, nghe v.v…và thấy, nghe … này biểu hiện một nội tâm thanh tịnh. Vậy thì làm thế nào để chúng ta đánh giá là một người có căn tu tập nếu chúng ta chỉ căn cứ vào cái vẻ bên ngoài.

Thế nào là chân tu? Theo định nghĩa người theo Trung đạo (Majjhimapaṭipadā) của Đức Phật là chân tu. Trung đạo là dukkhanirodhagaminipaṭipadā (đường lối thực hành đưa đến diệt khổ). Trung đạo này là Bát chánh đạo, bao gồm giới, định, tuệ. Người theo Trung đạo từ bỏ khổ hạnh và lợi dưỡng. Có hai cách thực hành Trung đạo, một là tu tập ở nơi chùa, hai là hành trì theo những hạnh Đầu đà. Dù sống ở chùa hoặc theo hạnh Đầu đà thì người tu phải theo ba pháp: Pháp học (pariyatti), Pháp hành (paṭipatti), Pháp thành (paṭivedha).

Tu tập ở nơi chùa là cách tu tiện lợi cho việc học pháp học. Vị ấy có thể phát triển việc học bằng cách học ở các trường Phật học trong nước và nước ngoài. Vị ấy cũng theo pháp hành để song hành với pháp học vì mục đích của thực hành trung đạo là tiến đến pháp thành. Theo cách hành trì tu tập ở chùa đem lại lợi ích là giúp cho vị ấy hiểu đúng lời Phật dạy và thực hành đúng. Vị ấy giúp cho chính mình được an lạc trong đời sống tu tập và giúp cho nhiều người hiểu đúng và thực hành đúng.

Tu tập theo hạnh Đầu đà là cách tu khó hơn. Đầu đà là gì? Đây là từ Hán Việt, đọc theo phiên âm. Pāli là dhutaṅga. Nếu chúng ta tách riêng ra thì dhu, âm Hán Việt là Đầu, đâu, thâu. Ta âm Hán Việt là đà, đa. Dhuta đọc theo phiên âm Hán Việt là đầu đà. Theo nghĩa của dhutaṅga thì dhuta là rửa, làm cho trong sạch phiền não. Aṅga là chi phần hoặc pháp môn thực hành. Như vậy đầu đà là cách thực hành để rũ bỏ phiền não.

Mười ba hạnh đầu đà:
1. Hạnh lượm vải dơ bị quăng bỏ làm y.
2. Hạnh chỉ có tam y.
3. Hạnh sống nhờ khất thực.
4. Hạnh đi khất thực từng nhà. 5. Hạnh thọ thực chỉ 1 lần trong ngày.
6. Hạnh thọ thực trong bát.
7. Hạnh không ăn thêm sau khi đã ăn vừa đủ.
8. Hạnh ở trong rừng.
9. Hạnh ở dưới cội cây.
10. Hạnh ở nơi đồng trống.
11. Hạnh ở nơi nghĩa địa.
12 Hạnh chỉ ở nơi chư Tăng chỉ định, không thay đổi nơi khác.
13. Hạnh không nằm.

Điều cần lưu ý trong hạnh lượm vải dơ bị quăng bỏ làm y. Những miếng vải dơ được giặt sạch và may thành y và nhuộm theo đúng luật. Không phải là miếng vải ghép nhiều màu. Hành giả đầu đà không đi chỗ này chỗ kia mà sống cuộc đời ẩn dật, viễn ly, không muốn người ta chú ý đến mình đang hành đầu đà. Ở Thái lan và Miến điện các vị đầu đà sống trong rừng. Phật tử là những người có pháp học. Họ biết cách kính trọng các Ngài. Họ không bao giờ bu quanh các Ngài, hoặc tán tụng là những vị A-la-hán. Họ biết tránh những việc không nên làm, những việc các Ngài bị bu quanh và được tán tụng chỉ gây phiền phức cho các Ngài mà thôi.
Hành đầu đà là để rũ sạch phiền não. Trước khi thực hành thì vị ấy đã có trình độ về pháp học và pháp hành. Chọn hạnh đầu đà là để giúp cho pháp hành tiến xa hơn và không nhứt thiết phải chọn hết 13 hạnh, tùy theo khả năng và nguyện vọng để theo các hạnh. Sau khi pháp hành đã tiến triển vị ấy có thể từ bỏ để sống ở chùa, không bắt buộc theo suốt đời.

Khi người ta chọn hạnh đầu đà là để tiến nhanh đến đạo lộ giải thoát. Nếu coi đầu đà như một cách nghiêm trì khổ hạnh theo hình thức, còn nội tâm không có một tiến triển gì trong chỉ quán thì đấy không phải là hạnh đầu đà theo lời Phật dạy.

Vào thời Đức Phật thức ăn rất trong lành, thuận theo thiên nhiên. Các vị thời đó nhờ vậy có sức khỏe tốt để thực hành các hạnh đầu đà. Ngày nay thức ăn khó giữ thuần túy như xưa, cho nên việc hành đầu đà có nhiều thách thức. Một vị du phương hiện đại đi đó đây ai cho gì ăn nấy tuyên bố rằng: “Thức ăn là bánh, kẹo. Ban đầu không chịu nổi, lần lần rồi cơ thể thích ứng với những thức ăn đó”. Phát ngôn như vậy là phản khoa học. Khi cơ thể còn khỏe mạnh thì nó thích ứng. Đến khi suy yếu rồi thì những chất đó sẽ không còn thích ứng nữa, lúc đó sẽ sinh ra nhiều bệnh tật. Không có phép mầu nào giúp cho thoát khỏi kết cuộc như vậy. Do đó, việc hành đầu đà phải hiểu rõ điều này để biết cách dừng lại đúng lúc và trước khi dừng nội tâm phải tiến triển, nếu không thì phung phí thời gian mà không được gì lại còn mang thêm thân bệnh.

Đạo Phật là Trung đạo phải được nhận thức với trí tuệ. Nếu chỉ nhìn qua vẻ ngoài rồi đánh giá là chân tu, lúc đó không phải là cách hiểu của người theo Trung đạo. Bậc chân tu phải theo ba pháp là pháp học, pháp hành và pháp thành. Trung đạo là đạo lộ giải thoát. Pháp học và pháp hành là giai đoạn đi trên đạo lộ trung đạo, nhưng đích để đến là Thánh đạo và cứu cánh là A-la-hán đạo.

Nếu có triệu người không có pháp học, không có pháp hành khen Đạo Phật và cũng có triệu người không có pháp học, không có pháp hành chê Đạo Phật. Số người khen đó có làm Phật Pháp tốt đẹp nhiều hơn không? Dĩ nhiên là không tốt đẹp, bởi vì họ chưa phải là hành giả trung đạo. Số người chê đó có làm Phật Pháp suy tàn không? Dĩ nhiên là không suy tàn, bởi vì họ không phải là hành giả trung đạo. Những lời khen chê đó không phải là những lời của bậc trí tuệ. Khen không đem lại vinh quang. Chê không đem lại lu mờ. Triệu người như vậy, người thứ nhất không có trí tuệ và người thứ một triệu không có trí tuệ. Nếu tăng lên thêm tỷ người thì số đông đó trở thành con số không. Ý nghĩa này được củng cố trong Phật ngôn thâm thúy trích từ Saṃyuttanikāya: “Nesā sabhā yattha na santi santo” (Không trí giả, không hội trường). Nghĩa rộng là bất cứ nơi hội tụ đông người nào nếu không có những bậc trí giả thì nơi đó trở thành trống không.

Đức Phật là đấng giác ngộ không nhìn người theo vẻ bên ngoài. Khi khen là khen chính xác vì thấy rõ nội tâm thanh tịnh của người đó. Khi chê là chê chính xác vì thấy rõ nội tâm ô nhiễm của người đó. Lời khen của Đức Phật cũng đầy trí tuệ. Trong Tăng chúng hiện diện không phải bậc Đạo sư khen duy nhất bậc A-la-hán. Đức Phật khen những vị A la hán, những vị Bất lai, những vị Nhất lai, những vị Dự lưu, những vị tu tập Tứ niệm xứ, những vị tu tập Tứ chánh cần, những vị tu tập Tứ như ý túc, những vị tu tập ngũ căn, những vị tu tập ngũ lực, những vị tu tập Thất giác chi, những vị tu tập Bát thánh đạo, những vị tu tập tâm Từ, những vị tu tập tâm Bi, những vị tu tập tâm Hỷ, những vị tu tập tâm Xả, những vị tu tập Bất tịnh, những vị tu tập Vô thường tưởng, những vị tu tập Niệm hơi thở vào và ra.

Những vị chưa phải là Thánh khi được Đức Phật khen trong số đó cần thiết phải có Anuyogamanuyutta (tận tâm tận lực). Khi có tận tâm tận lực với việc tu tập thì sẽ có Appamāda (không dể duôi). Không dể duôi nghĩa là không xao lãng, không chểnh mảng trong việc tu tập để tiến đến đạo lộ giải thoát.

Phật Pháp khác xa thế gian pháp trên nhiều phương diện. Chẳng hạn, gần nhất là sơ thiền. Một vị tiến sĩ sẽ mù mờ về trạng thái này nếu không có thực hành. Trái lại anh, chị nhà quê thất học nhưng đủ duyên chứng sơ thiền sẽ hiểu rõ về sơ thiền. Những bậc thiền cao hơn cũng cần yếu tố chứng nghiệm. Nếu đi xa hơn, bàn đến những quán trí, đạo quả thì cái trí thế tục chỉ nhìn thấy như nhìn ngôi sao lấp lánh trên bầu trời bao la.

Một bậc chân tu phải theo pháp học, pháp hành để có chánh kiến soi đường trên chánh đạo. Khi có chánh kiến thì việc tiến triển trên đạo lộ giải thoát là việc hiển nhiên. Việc tu tập đúng đường lối Trung đạo là bổn phận của bậc chân tu và cũng là trách nhiệm lớn lao đối với Phật Pháp. Một bậc chân tu như vậy sẽ đem lại an lành cho thế gian, xã hội. Nếu chân tu là theo Trung đạo của Đức Phật thì chân tu không phải dành riêng cho bậc xuất gia. Hiểu rộng hơn, người phật tử cũng theo Trung đạo, do đó cũng là chân tu. Nếu có nhiều phật tử như vậy thì sẽ có nhiều trí giả trong thế tục, lúc đó sẽ có nhiều hoa sen trong cuộc đời. Phật Pháp trường tồn chính vì có những chân tu trong đạo và ngoài đời.

(Tỳ-kheo Giác Lộc)