Phả ký họ Lê – Đồng Nai

Phả ký được coi là phần “Quốc hồn Quốc Túy” trong một cuốn Gia Phả. Đây cũng là phần khó viết nhất, viết sao cho hay, súc tích, chặt chẽ, cô đọng mà vẫn đủ ý. Vì thế, Gia Phả Dòng Tộc trân trọng giới thiệu cho quý bạn đọc cách viết Phả ký như thế nào thông qua cách trình bày Phả ký họ Lê sau đây. Mời quý bạn đọc cùng xem.

Nông thôn Việt Nam
Nông thôn Việt Nam

Hoà bình đã lập lại trên 30 năm, dòng họ Lê ở xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai cùng cả nước vượt khó khăn sau chiến tranh để vững bước đi lên và cũng không quên nhiệm vụ thiêng liêng đối với dòng họ. Đó là việc lập gia phả cho dòng họ mình.

Thật đáng mừng cho dòng họ Lê, việc lập gia phả cho dòng họ đã mong mỏi từ lâu nay đã được thực hiện. Dù có hạn chế về tư liệu song qua thông tin của hậu duệ, bài phả ký cũng đa tóm lược được lịch sử dòng họ với những điểm cơ bản sau :

– Nguồn gốc và sự phát triển của dòng họ.
– Tổ quán, đời sống và sự đóng góp của dòng họ cho quê hương.
– Phẩm chất tốt đẹp của dòng họ.

NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ

Con cháu họ Lê ở ấp Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai chỉ biết ông Lê Văn Phiên là người cao nhất trong dòng họ mình. Trong họ không có gia phả, cũng không có di chúc hay giấy tờ tương phân ruộng đất của tổ tiên để lại qua đó có thể biết được những đời cao hơn nữa. Qua khảo sát mồ mả, phỏng vấn con cháu họ Lê đặc biệt là bà Lê Thị Vân cháu dâu đời thứ ba là vợ của ông Lê Tấn Phong – người được phân công lo việc phụng thờ tổ tiên nhà chồng nên hiểu biết rất nhiều về dòng họ nhà chồng, thì bà cũng xác nhận người cao nhất trong dòng họ Lê là ông Lê Văn Phiên. Vì vậy, ta tạm coi ông Lê Văn Phiên là ông tổ đời một của dòng họ. Hy vọng sau này con cháu có điều kiện phát hiện thêm.

Ông Phiên từ đâu đến Bình Long hay ông được sinh trưởng tại đây thì trong họ không ai biết được. Căn cứ vào mộ bia thì năm sinh của ông là năm 1873 (Tự Đức thứ 33). Đây là thời điểm mà triều đình Huế phải ký với Pháp hoà ước Harmand. Theo hoà ước này thì miền Nam thuộc chế độ trực trị của thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam chống lại thực dân Pháp và tay sai. Những sự kiện này ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của con cháu họ Lê đối với quê hương đất nước để gắn bó với cách mạng. Theo con cháu họ Lê thì ông tổ mình làm nhiều nghề khác nhau. Ngoài nghề chính là hớt tóc, ông còn làm khuôn đường thẻ, một nghề thủ công ở địa phương. Ngoài ra, ông còn trồng nhiều loại cây ăn trái trên miếng vườn nhỏ của mình. Đặc biệt bưởi là cây đặc sản của quê hương. Ông có vốn kiến thức chư nho khá nên nuôi dạy con cháu theo lễ giáo phong kiến song tiến bộ. Nhà ông có rất nhiều sách chữ nho nhưng do chiến tranh, con cháu không bảo quản được, cho đến nay thì không còn quyển nào.

Ông lập gia đình với bà Lưu Thị Lỗi, quê ở ấp Long Chiến cũng thuộc xã Bình Long, quận Tân Uyên tỉnh Biên Hoà nay là xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai. Bà làm nghề tráng bánh tráng và chăm sóc các con trong gia đình.

Ông mất năm 1949, giỗ ngày 10 tháng 5 âm lịch. Mộ ông chôn tại gò Cây Dầu Cầu Kinh thuộc ấp 5 (Xuân Hòa – xã Lợi Hoà) nay ấp 5 xã Bình Lợi. Bà mất năm 1951, giỗ bà nhằm ngày 28 tháng giêng âm lịch, mộ bà ở ấp 5 Xuân Hòa – Lợi Hòa. Năm 2000 cháu đời thứ ba là Lê Văn Hồng, Lê Tấn Phong hốt cốt ông bà đem về đất Chùa Long Vân và xây mộ ông bà lại rất khang trang. Giỗ ông bà hiện nay do cháu dâu đời thứ ba là Lê Thị Vân phụ trách.

Ông bà có 8 người con : bốn trai, ba gái theo thứ tự sau :

Thứ hai : chết nhỏ.
Thứ ba : Lê Văn Tặc.
Thứ tư : Lê Thị Bối.
Thứ năm : Lê Thị Quang.
Thứ sáu : Lê Văn Trấn.
Thứ bảy : Lê Văn Nhậm.
Thứ tám : Lê Thị Tây.
Thứ chín : Lê Văn Lễ.

Ba người con gái lấy chồng ở quê nhà và các xã lân cận. Bốn con trai ông lập gia đình tạo ra bốn chi :
Chi thứ nhất: Ông Lê Văn Tặc kết hôn với bà Nguyễn Thị Nghị. Ông bà chỉ có một con gái, không có con trai nối dòng.
Chi thứ hai: Ông Lê Văn Trấn cùng vợ là bà Trương Thị Trọng. Ông bà có tám con (một người con gái và bảy người con trai), chết nhỏ hai người còn lại năm trai và một người con gái út. Ông là cha của ông Lê Văn Hồng (Lưu) người lập ra gia phả này.
Chi thứ ba: Ông Lê Văn Nhậm lấy vợ ở xã Bình Hoà có 9 con, là một chi có đông đảo hậu duệ, chết nhỏ ba, còn lại hai con gái và bốn con trai.

Trả lời

Đánh giá bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *