Nhà sử học Lê Văn Hưu qua tư liệu Gia Phả

Lê Văn Hưu (chữ Hán: 黎文休;1230-1322) là một nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách này không còn nhưng nhờ nó mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Ông được cho là Bảng nhãn đầu tiên của Đại Việt, đỗ khi 17 tuổi, cùng khoa thi với trạng nguyên Nguyễn Hiền và thám hoa Đặng Ma La.

Nhà sử học Lê Văn Hưu
Nhà sử học Lê Văn Hưu

Lê Văn Hưu là người làng Phủ Lý (tên nôm là Kẻ Rị), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Theo bản dịch Gia Phả của dòng họ Lê ( Kẻ Rị) ghi chép thế thứ 21 thế hệ đầu của dòng họ này, được chia làm 2 phần:

+ Lê Gia chính phả: Ghi 6 đời (Do quan chủ bạ Trương Đức Bá chép).
+ Lê Đường Thế Biên: Chép bắt đầu từ Lê Văn Hưu, cho đến thứ hệ thứ 21 là ông Lê Văn Dương (mất năm 1950). Không ghi tên tác giả.

Dưới đây là phần lược dịch Gia Phả:
Theo Lê Gia Chính Phả:
1. Đời thứ 1: Sơ tổ là Trấn quốc công, Bộc xạ tướng công huý là Hùng Vũ. (Ông còn có tên huý là Lê Lương).
Ghi nhỏ: Huý là Vũ, trong nhà giàu có thóc chứa hơn trăm kho, trong cửa nuôi ba ngàn khách. Ông rất sùng đạo Phật. Lúc ấy trong Châu quận thường bị đói kém, ông bèn chia thóc của nhà để chu cấp cho nhà thiếu ăn.
Khi vua Đinh mở nước, ngôi vua đã vững, nghe thấy ông có đạo tâm, vua xuống chiếu mời ông tới hành tại hạ ban sắc cho nửa kỳ (500 dặm vuông) phía Đông từ xứ Ma La, phía Nam tới xứ Cốc Cước. Đến thời Lê Đại Hành cũng vẫn theo như thế mà phong sắc cho.
Ông hưởng thọ 73 tuổi, mộ táng ở xứ Mả Trong (có lẽ là Mả Choòng) về phía Bắc toạ tỵ hướng hợi.

2. Đời thứ 2: Tổ thứ hai, chức Quản giới xứ, hiệu là Đạo Quang trưởng lão.
Ghi nhỏ: Huý là Dụng, nối nghiệp cha, giữ gìn thực ấp, hưởng thọ 75 tuổi, mất ngày 21 tháng 3

3. Đời thứ 3: Tổ thứ ba chức Nội tỉnh đô tri kiểm hiệu Thái Phó kiêm cung dịch sứ đại tướng quân, kim tử quang lộc đại phu, Thượng trụ khai quốc công.
Ghi nhỏ: Huý là Chính, hiệu là Văn Tống, Kế làm quản giới xứ nối nghiệp ông cha, ngày đêm tu hành chuyên tâm về Đạo Phật. Lúc ấy nhà Lý tôn sùng Đạo Phật, ban sắc cho ông làm Thiền chủ. Đến thời Lý Thánh Tông (1054 – 1071) cho triệu vào nội thị, ngày đêm giảng bàn về Đạo Phật, càng được yêu chuộng. Dịp đến vua Minh Hiếu hoàng đế lại ban sắc phong âm nội tỉnh đô tri, kiểm hiệu Thái phó kiêm cung dịch sứ đại tướng quân kim tử quang lộc đại phu. Thượng trụ khai quốc công, hưởng thọ 73 tuổi, mất ngày 10 tháng Hai. Mộ táng tại phía Đông Mả Ngòn toạ quý, hướng đinh. Sinh hạ 5 con, trưởng là Văn Quý.

4. Đời thứ 4: Tổ thứ Tư, chức Quản giới, hiệu là Thiền Quang Trưởng lão.
Ghi nhỏ: Húy là Quý, kế làm Quản giới xứ, tu giảng kinh tiên, được phong làm Thiền Quang Trưởng lão. Hưởng thọ 68 tuổi, mất ngày 21 tháng 3. Mộ táng ở xứ đồng Mả Hón (hay Mả Dỗn), sinh 5 con.

5. Đời thứ 5: Tổ thứ năm thuỵ là Phúc Văn, tự là Văn Bảo.
Ghi nhỏ: Huý là Trung, lúc ấy nhà Lý gần suy. Ông lui về nơi ruộng vườn, thường dạy con rằng: “Nhà ta trải qua nhiều đời chuyên lấy đạo Phật làm trọng đều được vua ban ơn cho vinh hiển; chúng con nên tu nhân tích đức giảng kinh học đạo, lấy văn chương là lòng, sẽ được lưu danh ở đời. Hưởng thọ 73 tuổi, mất ngày 23 tháng Ba. Mộ táng ở xứ Mả Mão. sinh ra Văn Thiện”.

6. Đời thứ 6: Huý là Phúc Thiện.
Ghi nhỏ: Huý là Minh, tự là Văn Thiện, lấy con gái lành nhà họ Đỗ, chưa được nửa năm đến ngày mồng 1 tháng 11 thì bị bệnh mất. Lúc ấy, bà vợ mới có mang 4 tháng. Một đêm nằm mộng thấy có người dẫn đến xứ Mã Dỗn, chỉ tay bảo rằng: “nên đưa mả chồng nàng đến táng ở chỗ huỵêt này, toạ đông hướng tây, cấn xương canh hưởng thì con ra đời sẽ đậu khôi nguyên”. Khi bà tỉnh ra, nói với cha, ông bèn đem mộ người con rể đến táng vào xứ huyệt xứ ấy. Mộ của ông Phúc Thiện:

“Trên có ruộng trồng lốc
Dưới có dọc cây chiêm
Hai bên như cái cù liềm úp lại”.

Sáu tháng sau bà sinh con trai, đặt tên là Hưu. Đến 18 tuổi đi thi đỗ đầu, làm quan đến Thượng thư, được vua ban cho mộ địa 5 sào để con cháu đời đời gìn giữ.
(Từ đời thứ sáu trở về trước do quan Chủ bạ Trương Đức Bá biên).

Theo Lê Đường Thế Biên:
7. Đời thứ 7: Tổ thứ Bảy, hiệu Tu Hiền, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh triều Trần, tước Hàn lâm viện thị độc. Làm quan đến thượng thư bộ Binh kiêm Trưởng sử quan, tu Đại việt sử ký, tước Nhâm uyên.

Ghi nhỏ: Huý là Hưu, sinh năm Canh Dần (1230) mặt mày đầy đặn, tư chất nhanh sáng. Lên 9 tuổi học ông thầy họ Nguyễn người xã Phúc Triền, học ngày càng tiến, được thầy yêu khen. Mười một tuổi qua chợ thấy người thợ rèn bán dùi, ý muốn lấy dùng. Người thợ rèn ra cầu thách đối:
“Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.

Cậu bé đối ngay:
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên”.

Người thợ khen lạ, bèn thưởng cái dùi và 3 tiền nữa. Trong khi đi học bà con thường nom thấy có 4 đám mây che trên đầu không bị mưa nắng. Đến 16 tuổi lên trấn thi Khảo, có soạn 1 câu vào lá đơn khiếu của dân xã An Lạc, khi về chỉ còn thấy có 3 đám mây che trên đầu, bèn đem việc ấy nói với nhạc phụ. Ông (nhạc) bèn lên trấn tĩnh với thượng quan xin phân giải việc song lại thấy được 4 đám mây che trên đầu. Khi ấy thầy học rất yêu bèn gả con gái lớn cho.

Năm 18 tuổi, đi thi đỗ đại khoa. Năm 24 tuổi được thụ chức Hàn lâm viện thi độc, làm việc mãi đến năm 45 tuổi được thụ chức Binh bộ Thượng thư. Năm 50 tuổi được giữ chức Chưởng sử quan tu sử ký từ Triệu Vũ đến Lý Chiêu Hoàng.
Đến đời Thánh tổ năm Nhâm Thân (1272) thì soạn xong bộ sử dâng lên, nhà vua xuống chiếu ban khen. Sinh hạ con trai là Lê Văn Chung. Thời vua Nhân Tông có dự thi đại học được trúng tuyển.
Ông hưởng thọ 93 tuổi, mất ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1322) Mộ táng xứ Mả Giòm, toạ quy hướng đinh, được ban 3 sào đất vườn làm Hội điền.

8. Đời thứ 8: Tổ thứ 8 tên tự là Chung đỗ Thái học sinh sung chúc Tĩnh quan các.
9. Đời thứ 9: Tổ thứ 9 tên là Nhân, học thượng xá sinh, sung chức Ba thủ lệnh.
10-12. Đời thứ 10-12: Chỉ ghi tên (xin lược dịch).
13. Đời thứ 13: Tổ thứ 13 hiệu là An Nghiệp tiên sinh, khoa thi hương, đỗ sinh đồ (Tú tài).
14. Đời thứ 14: Huý là Chất hiệu là Tâm trai đỗ hương cống (cử nhân).

15. Đời thứ 15: Tổ thứ 15 huý là Ích, đỗ hương cống làm quan đến tước Tán tị công thần đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu, Đô chỉ huy sứ, Trí dũng hầu, Thuỵ là Phúc Trí, hiệu Tín Trai.

Ông còn tên huý là Hàm, tên tự là Trực, hiệu là Nghiêm Trai, đỗ Hương Cống, tri phủ Thượng Phúc.
16. Đời thứ 16: Tổ thứ 16 huý là Dũng, tự là Pháp Như, có vợ nhưng làm sư tăng ở chùa Hương Nghiêm trong làng.
16. Đời thứ 17: Tổ thứ 17 tên huý là Văn Nghi tự là Tính Trạm, làm sư tăng ở chùa Hương Nghiêm đem của nhà ra tu sửa chùa có tạc bia đá, trụ đá vào năm bính Ngọ (1726).
18. Đời thứ 18: Tổ thứ 18, huý là Văn Nghĩa thụ chức Tri Châu.
19. Đời thứ 19: Tổ thứ 19 huý là Đức, tự là Phúc Quy, tước Bách hộ thời Lê.
20. Đời thứ 20: Tên huý là Yên Nghiệp.
21. Đời thứ 21: Tên là Lê Văn Dương mới chết năm 1950.

Ông Dương không có con trai, chỉ sinh được gái là bà Lê Thị Hoa, người giữ được cuốn gia phả này. Bà Hoa đã chết gần đây.
Ngành đích họ Lê đã dứt. Dòng họ Lê này hiện chỉ còn dòng thứ do ông Lê Văn Vĩnh làm trưởng họ.

Tư liệu cung cấp bởi Nguyễn Xuân Văn.