Giải thích về Chữ quốc ngữ Việt La-tinh

(tích luỹ nghiên cứu 15 năm qua)

Mục đích của sự chấp nhận chữ Việt La-tinh, một là để thoát Hán (Trung), hai là để xoá mù chữ (90%) và học tập văn hoá và tiến bộ phương Tây. Hỏi cụ Phan Chu Trinh xem có đúng không.

Chứ không phải chúng tôi không biết về lịch sử chữ Viết của Việt tộc suốt hơn 5000 năm qua. Chữ Nho (hay gọi là chữ Việt Hán, chứ không phải Hán Việt) gốc là Chữ Vuông của người Việt từ thời Việt Câu Tiễn về trước… khi mà tộc danh Hán còn chưa hình thành, huống gì là tên gọi chữ Hán. Và vào lúc Khổng Tử cùng học trò san định lại nền văn hoá rực rỡ phương Nam đọc sách bằng chữ Khoa Đẩu viết trên thẻ tre (Trúc thư) và để ghi chép thành Kinh điển, thì Đức Phật Thích Ca cũng đang thuyết giảng ở Lâm Tì Ni…khi đó Đạo Phật cũng còn xa lắm chưa có ở nước Nam ta.

Bản đồ thời xưa
Bản đồ thời xưa

+ Tiếng Việt có cả 2 hệ ngôn ngữ, hệ Tiếng (phương Nam) phần ‘tiếng’ có trước và ghi nhận bằng chữ Khoa Đẩu, cùng hệ với anh em ĐNÁ; say này có thêm chữ Vuông là phẩn ‘chữ’ gọi biết chữ hay mù chữ, còn tiếng nói thì vẫn líu lo… Lấy 1 ví dụ Vũ (chữ viết 舞) và Võ (chữ viết 武), thì gọi là họ Vũ là nhầm sang Vũ, 舞 múa, khiêu vũ) Võ có trước Vũ chứ không phải chữ Vũ có trước rồi đến khi người Đàng Trong phải phục Nôm gốc mà Vũ trở lại Võ, (ngài kinh lược sứ Vũ Hồn còn là hậu duệ của thầy Võ Thê Lang từ thời Hùng Vương, hay bà Võ Thục Nương là nữ tướng của Hai bà Trưng) tiếng gọi Vũ bị Hán hoá, trong khi tiến miền Nam thì Vũ (khiêu vũ, múa) có nghĩa khác Võ (đánh võ). Quá trình Hán hoá là quá trình biến đa âm thành đơn âm, biến 6,7,8 dấu thanh còn lại chỉ có 4 dấu thanh (tiếng phổ thông Bắc Kinh).

Trong quá trình lịch sử người Việt đầu tiên dùng chữ Khoa đẩu, cùng hệ chữ con giun với anh em Thái, Cam (Khơ me). Chữ này gần đây thầy Đỗ Văn Xuyền vẫn khôi được toàn bộ. Tức chữ ký âm (phono-linguistic) nhờ đó mà tiếng Việt thanh âm dạt dào phong phú như tiếng Chim hót (các thầy dòng Tên đã nhận xét như vậy). Tranh Tết Hàng Trống còn lưu giữ bức tranh đầy Minh Triết là Thầy Đồ Cóc.

Ở TQ đương thời Mao Trạch Đông cũng nỗ lực nghiên cứu hệ Bính Âm để dùng song song với chữ Hán, nhưng không thành công. Lý do đơn giản bởi chữ Hán là của phương Nam, là do người Việt cổ tạo dựng nên trên đất Trung Hoa (nhà Hạ ở Nam Dương Tử). Người phương Bắc chỉ phát âm ‘4 dấu thanh’ (như tôi cũng nói được tiếng Bắc Kinh phổ thông) so với người Việt, và Quảng Đông, phương Nam. Cho nên vì sự trùng âm quá lớn nên hệ chữ PinYin (Bính Âm) chào thua không thay thế được. Thời nhà Thương đã có giao lưu bằng chữ tượng hình cổ (xem hình mẫu chữ Triện về trước). Khổng Tử là người san định nó và gọi là Chữ Vuông (Wén Tử) hay Nhã Ngữ. (tức Chữ Nho theo ngữ pháp Việt, tức là ‘nho nhã’ là một tính từ rất thâm thuý mà người Bắc Kinh không thể hiểu), sau nói theo kiểu Hán và phương Bắc gọi là Văn Tự (Wén với Vuông là cùng chữ 文 mà ra Văn Tự (wénzi).

Học giả (một người bạn) Đỗ Ngọc Thành (Sacramento, Hoa Kỳ) là người am hiểu hầu hết các ngôn ngữ Bách Việt tiêu biểu: Mân Việt, Dương Việt, Điền, Dai, Bạch Tộc, Hakka, Lạc Việt Choang và Lạc Việt Việt Nam… đã công bố cong trình này cách đây hơn 10 năm. Cùng lúc là khảo cổ học Xẻng Đá Lớn ở Cảm Tang (Lạc Việt – Quảng Tây) cho thấy dấu vết chữ Vuông khắc đá, tiền thân chữ Giáp cốt và Kim văn 1000 năm. Cảm Tang và Quảng Tây nói chung ngày nay vẫn còn là khu tự trị Choang Lạc Việt, chứ đâu có Hán tộc nào (như Vua Càn Long đã hứa trả lại Lưỡng Quảng cho Vua Quang Trung). Trong lịch sử thì chữ giáp cốt cho người Việt (nhà Hạ) khắc lên mai rùa để ghi nhận thời biểu, lịch sử thế giới quan cổ đại, sau đó là chữ viết trên thẻ tre (Trúc thư) mà chính Khổng Tử đã đọc-và-học sách Kinh Dịch đến mòn rách dây da buộc…Trong 15 năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cổ ngữ tiếng Việt của Đỗ Ngọc Thành, BS Nguyen Xuan Quang, Lãn Miên, Hà Văn Thuỳ, GS Cung Đình Thanh, Nguyễn Thiếu Dũng, Nguyễn Văn Tuấn, Hội Văn hoá Lạc Việt Quảng Tây (Luoyue Guangxi)… và đặc biệt công trình nghiên cứu của Stephen Oppenheimer Địa đàng ở Phương Đông, hay của Lê Mạnh Thát, Thiên Sứ (Nguyễn Vũ Tuấn Anh) cũng như thời ’60, ’70 của Kim Định và Bình Nguyên Lộc.

Tiếng nước Sở qua kho tàng Sở Từ (Khuất Nguyên) là cầu nối sang nhà Chu và khối Hán tôc sau này. TQ vẫn tôn vinh Văn học Sở Từ là xưa nhất và giá trị nhất TQ. Trong đó đặc biệt huyền thoại về Khúc Nghê Thường trong Kinh Nhạc nhà Bác học Khổng Tử ghi nhận là ông san định chứ không trước tác, nhưng đến 220BC bị Tần Thuỷ Hoàng đốt Kinh Nhạc trong kho Lục Kinh (hay Ngũ Kinh sau này). Và đặc biệt hơn là bài Việt Nhân Ca còn vang vọng đến ngày nay ở TQ đã dựng lại nhiều tác phẩm điện ảnh để ca ngợi. Nhạc sĩ Cung Tiếng cũng đã phực dựng qua bản nhạc Đêm Hoa Trăng đúng như cảm nhận của Đỗ Ngọc Thành đã mô tả (Việt Nhân Ca 2800 năm) và dịch sang thế Ca dao (cách đây hơn 10 năm) làm xôn xao giới nghiên cứu cả TQ và VN.

https://www.youtube.com/watch?v=D9pBgSt1efk
Trong clip này cón có 1 bài trích đoạn từ Tiếng Trống Mê Linh (NSND Thanh Nga bị sát hại…) cũng là một bài dân ca Việt cổ…
https://www.youtube.com/watch?v=V3DiQaDMsp0

Đó là tóm tắt toàn bộ sự thật về tiền thân chữ Vuông (Văn Tự) mà sau này Tần Thuỷ Hoàng đã quy định thêm để thống nhất toàn Trung Hoa (chữ tiểu Triện và chữ Lệ sau này), tuy nhiên hàng trăm năm sau người Hán phương Bắc vẫn không đọc thông chữ Vuông (Bách Việt) cho nên Hứa Thận (許慎, hoặc 许慎; khoảng 58-147) mới soạn từ điển Thuyết Văn Giải Tự để giải thích cách đọc cho người Hán. Đối với người Hoa Nam thì không cần giải thích gì mãi thời nhà Đường người Hoa Bắc (Bắc Kinh, Thiểm Tây) vẫn không đọc được thơ Đường ví có vần điệu như phương ngữ Hoa Nam và tiếng Việt. Đó là bằng chứng…

Càng về sau TQ càng chiếm hữu ngôn ngữ và áp dụng Ngữ Pháp phương Bắc. Minh Thành Tổ Chu Đệ dời đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh (Yên Kinh) là dấu mốc quan trọng, Chu Đệ là kẻ ác nhất TQ (giống Tần Thuỷ Hoàng) nhất là đã xâm lăng Việt Nam (hậu trần, Hồ Quý Ly) và thu đốt hầu hết sách sử bắt Nguyễn An (và 1,7 vạn nhân công) sang xây dựng Tử Cấm Thành nổi tiếng thế giới như hiện nay. Đến thời Mãn Thanh thì TQ coi như bị ngoại tộc đô hộ…

Nước Việt Văn Lang cổ đại có những trung tâm văn hoá trải khắp nam Dương Tử đến VN theo sử tuyền. trong đó nổi bật nhất là kinh đô Lương Chữ lâu đời mà Lịch sử TQ sau khi khai quật thì không biết xếp vào đâu vì không có trong Sử Ký…Khi tan vở thì hìanh thành Bách Việt và kể cả “truyền thuyết” Âu Cơ – Lạc Long Quân do can cháu xây dựng nên để ghi nhớ và giáo dục con cháu về nguồn gốc tổ tiên.

Nhánh người Thái (Âu Việt) cũng vậy gìn giữ được chữ viết cổ đại (hệ con giun hay khoa đầu). Người Thái (Âu) di dân từ Vân Nam xuống Myanmar, Lào, tây Bắc Việt Nam và Thái Lan (miền đất mới của người Thái, tức Thai Land)…

Người Việt có chữ Viết, hãy nhìn bằng chứng trên thanh gươm của Vua Câu Tiễn (Việt xưa, hậu kỳ Văn Lang sớm) trong đó chữ Nôm cổ là Gươm mà chữ Hán viết là Kiếm, và chữ Gươm không hề có trong từ điển chữ Hán ngày nay.

Nam Việt (Triệu Đà) là đặt tên chiếu theo Việt ở miền Bắc (gần Thương Hải, Hàng Châu, An Huy), hậu duệ còn chạy về Việt Nam (Nam Triệu) và bọc sang Ai Lao lên đến Vân Nam thành nước Nam Chiếu.

Chữ Nôm cũng có 2 hệ là hệ Nôm Gốc và hệ phục Nôm thời Lý Trần sau này. Cũng như Nho giáo, phải phân biệt Nguyên Nho (Vương Đạo) và Hán Nho (Bá Đạo)…

Đám con cháu thời nay mất gốc cứ tưởng chữ Hán (Nho) là của người Hán. Trong danh xưng Việt 越 (viết thành chữ) có trước tộc danh Hán hơn nghìn năm…Nước Sở hùng mạnh nhất trong khối Bách Việt vẫn có một mạch sử Họ Hùng song hành với Hùng Vương ở Việt Nam. Khi đó đã là thời kỳ Văn Lang tan rã và hình thành Văn Lang muộn ở Bắc Việt. Quá trình tiếp biến văn hoá (Hán hoá) dễ nhận thấy là Việt – Sở – Chu trong thời kỳ Chiến Quốc. Bọn Lục Lâm Thảo Khấu tiếm quyền nhà Hiếu (sau họ gọi là Tây Hán) và đánh tráo lịch sử Hãn trở thành Hán (Đông Hán) và xâm lăng đất tổ Vua Hùng. Hai Bà Trưng khi đó vẫn chiến đấu khắp cõi Lĩnh Nam 65 thành trì, đó là di sản văn hoá Việt.

Tại sao tiếng Việt chuyển ngữ sang La-tinh được mà chữ Hán thì không?

Đó vì 2 lý do (1) nguyên bản tiếng Việt là Phono-Linguistic (vd âm dọc 1,2,3,4,5 vẫn giống như tiếng Khmer thời Đông Nam Á như Bình Nguyên Lộc đã chứng minh) rồi sau đó mới là Tượng Hình và Biểu Ý. Chữ Hán chỉ có phần tượng hình và biểu ý. Cho nên khả năng chuyển sang chữ ký âm (phono-linguistic) rất khó, nên không truy đọc được do bị trùng âm. Một chữ Hán Bính Âm có đến 20-30 chữ viết khác nhau.

Vậy các ông cứ dùng chữ Nôm đi, trả lại chữ quốc ngữ cho Alexandre de Rhodes…Hay là khởi động phong trào tẩy chay chữ quốc ngữ ABC đi nha…Thực tế thì các vị này cũng không hiểu mấy về lịch chữ chữ viết của người Việt. Quá trình sáng tạo liên tục từ chữ Khoa Đẩu sang Chữ Vuông (Văn Tự) và chữ cái La-tinh… Người Việt vẫn tôn trọng gìn giữ chữ Nho (Hán Nôm) nhưng với tỷ lệ mù chữ quá cao 90% và nhất là nhu cầu thoát Trung thì chữ Latinh ABC đáp ứng 2 nhu cầu to lớn ấy…

Trong cuộc sống, ngoài các bậc Thánh ra, tất cả các vĩ nhân đều không có ai toàn bích cả. Lịch sử đã từng nhuốn rất nhiều máu, máu và máu… Đã từng có lúc người ta chửi bới tất cả dòng họ chúa Nguyễn; hay xưa kia nhà Trần triệt dòng nhà Lý và cứ liên tiếp như vậy…Rồi có lúc người ta đấu tố và chém giết và tịch thu mà không dựa vào một sự xét xử công tâm, không một suy nghĩ và Nhân văn, Văn minh và Văn hiến như tinh hoa của dân tộc. Chỉ vì căn bệnh cố hữu của người Việt đó là “hễ tao đúng thì mày phải sai”.

Kể cả Phật giáo thời nguyên sơ, cũng là một sự du nhập từ nước ngoài… Và trong tiến trinh lịch sử chúng ta học hỏi và thu nhận những tinh hoa của thế giới để làm giàu thêm vốn văn hoá, bản sắc và sức mạnh mềm của dân tộc Việt.

Hãy cùng nhau sống với Minh Triết Thái Hoà của cha ông, vì chữ Hoà 和 là biểu trưng của Cây Lúa, là văn minh nông nghiệp rực rỡ xa xưa, hàng nghìn năm tước khi Phật và Chúa ra đời…

Sưu tầm

Trả lời

Đánh giá bài viết

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *