DUY TÂN – Một vị vua bất khuất

Năm 1916, vua Duy Tân cùng các nhà yêu nước đã tổ chức khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Việc tuy không thành, vua bị đày sang đảo Réunion, nhưng tinh thần yêu nước của nhà vua vẫn sẽ luôn sống mãi cùng với ý chí kiên cường trong con người vị vua trẻ này. Dưới đây là vài mẫu chuyện ngắn về vua Duy Tân, qua đó nói lên được phần nào nỗi phiền muộn vì mất nước và quyết tâm chống giặc ngoại xâm của ông. Qua đó ta thấy, trước sau vua Duy Tân vẫn luôn là người yêu nước, chống Pháp.
 
Năm 1907, vua Thành Thái vì có thái độ yêu nước nên bị giặc Pháp truất phế đày vào Vũng Tàu. Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San khi ấy mới 8 tuổi, được giặc Pháp tôn lên làm vua, lấy niên hiệu là Duy Tân. Chúng tưởng rằng nhà vua nhỏ tuổi, giặc nói gì ông cũng sẽ nghe. Nhưng không ngờ mới một ngày ngồi trên ngai vàng, bộ mặt của cậu bé 8 tuổi đã hoàn toàn thay đổi. Cậu bé 8 tuổi này tỏ ra không muốn làm một ông vua bù nhìn. Vì vậy nên chẳng bao lâu sau, giặc phải làm một nhà thừa lương ở Cửa Tùng xa Kinh đô hàng trăm cây số để cho Duy Tân ra đó chơi đùa, nhằm sao nhãng bớt chuyện làm vua đi.
 
Ở Cửa Tùng, giữa cảnh trời cao bể rộng, vua Duy Tân không thể quên được lý do vì sao vua cha bị đày, ông lại càng không quên trách nhiệm làm vua của ông đối với nỗi khổ cực lầm than của dân, của nước. Một hôm, vua ngồi vốc cát biển lên chơi, hai tay bẩn. Một ông quan thị vệ bưng nước đến cho vua rửa tay. Vừa thò tay vào nước rửa lỏm bỏm, vua vừa nhìn ông quan thị vệ, hỏi rằng:
 
– “Tay nhớp thì lấy nước mà rửa. Nước nhớp thì lấy chi mà rửa?”
Ông quan sợ quá, nhìn vua mà hai môi mấp máy không nói được nên lời. Nhà vua thông cảm cho người quản gia tội nghiệp, nên tự trả lời:
– “Máu!”
 
Một lần khác, một ông quan đại thần ra thăm vua, thấy nhà vua có vẻ buồn bực, ông liền bày cần câu đưa vua đi ghe ra biển câu. Ra đến biển, vua mới buông câu thì lưỡi câu đã bị mắc. Nhà vua vừa lần gỡ câu vừa hỏi dò ý ông quan đại thần được nhà vua rất tin cậy bằng một câu đối:
 
“Ngồi trên nước không ngăn được nước,
Buông câu ra đã lỡ phải lần!”
 
Biết ý nhà vua muốn hoạt động cứu nước, ông quan đại thần sợ nguy hiểm cho vua bèn đối lại, khuyên vua không nên có ý nghĩ táo bạo ấy:
 
“Sống ở đời mà ngán cho đời,
Nhắm mắt lại đến đâu hay đó!”
 
Biết được tinh thần cầu an của ông quan đại thần, từ đó vua Duy Tân không bao giờ thổ lộ tâm tình với ông này một lần nào nữa.
vua Duy Tân
vua Duy Tân khi tại vị
Đến khoảng năm 1915, vua Duy Tân chuẩn bị việc cai trị, yêu cầu Phụ đạo nói rõ về các điều khoản trong hiệp ước Paternôtre (1884) và qui ước năm 1885. Nhà vua rất quan tâm đến ý nghĩa hai chữ bảo hộ (protéger) trong hiệp ước. Khi hiểu rõ hai chữ bảo hộ rồi nhà vua kêu lên: “Phải chăng người Pháp đã vi phạm hiệp ước 1884? Thay vì bảo hộ nước Nam họ lại xem nước Nam như một thuộc địa để họ cai trị”. Hôm sau nhà vua cho vời Thượng thư bộ Lễ Huỳnh Côn vào điện Du Cửu bảo Huỳnh Côn phải thương nghị với tòa Khâm sứ thực thi cho đúng tinh thần bảo hộ trong hiệp ước 1884. Ông Huỳnh Côn không dám nhận nhiệm vụ, vua Duy Tân rất bất bình. Chuyện đó đến tai các đại thần, các đại thần khuyên can vua không nên có những hành vi làm phật lòng người Pháp. Nhà vua tỏ ra chê trách các đại thần sợ Tây. Từ đó ngài không còn tin tưởng vào các đại thần chung quanh nữa.
 
Nhưng ý muốn cứu nước của nhà vua lại được nhân dân địa phương biết đến rất nhanh. Lúc ấy có ông Khóa Bảo – một người hoạt động yêu nước ở Quảng Trị – đã tìm mọi cách để được đến gặp nhà vua. Gặp nhau, vua tôi đều rất mừng. Ông Khóa liền kể hết những chuyện tai nghe mắt thấy về tội ác của giặc Pháp bóc lột dân ta và nỗi lầm than khổ ải của dân mình, nhà vua nghe chuyện và đã khóc.
 
Nhờ Ông Khóa Bảo mà đảng bí mật của Thái Phiên và Trần Cao Vân biết được vua Duy Tân đang muốn hoạt động cứu nước. Hai ông đã rất công phu, giả người đi câu hẹn gặp nhà vua và bàn với nhà vua kế hoạch cứu nước. Vua Duy Tân chấp nhận mọi ý kiến của hai nhà yêu nước và hối thúc hãy hành động nhanh lên để giàng được cơ hội tốt. Nhìn chung, vua Duy Tân cũng như hai nhà yêu nước Thái, Trần, tinh thần yêu nước, căm thù giặc có thừa đấy, nhưng do thiếu một đường lối cứu nước tiên tiến, thiếu một phương pháp tổ chức thích hợp, nên cuộc khởi nghĩa hồi tháng 5 năm 1916 đã thất bại, những người cầm đầu bị dìm trong biển máu.
 
Lúc giặc vây bắt nhà vua tại một căn nhà gần núi Thiên Thai, nhà vua vẫn bình tĩnh, sẵn sàng nhận mọi sự đối xử tàn bạo của kẻ thù. Bọn giặc thấy một vật gì cồm cộm bên hông giắt trong áo nhà vua, chúng loay hoay muốn soát. Nhà vua hiểu ý, chỉ cái vật ấy và nói với tên Khâm sứ và tên chánh mật thám người Pháp rằng:
 
– “Mấy ông tưởng cái ni là súng lục hả? Không phải mô. Tui mà có súng thì tui bắn mấy ông chết hết rồi, đây là cục lương khô thôi!”
 
Bọn giặc bị hạ nhục nhưng chúng cũng được yên tâm. Tên Khâm sứ đưa vua Duy Tân về giam trong đồn Mang Cá của chúng. Trên đường đi, chúng hỏi nhà vua:
 
– “Nhà vua có ân hận gì về cuộc phiêu lưu vừa rồi không?”
 
Vua Duy Tân đáp một cách thản nhiên:
– “Có chớ!”
 
Tên Khâm sứ mừng rỡ hỏi tiếp như hỏi một cậu học trò:
– “Ân hận như thế nào?”
 
Vua Duy Tân đáp không một chút ngại ngùng:
– “Vì ta chưa đánh được người Pháp mà đã bị bắt!”
 
Không khuất phục được ý chí của vua Duy Tân, chúng bắt đem nhà vua về giam. Giặc Pháp làm áp lực, bắt triều đình và gia đình vào nhà giam thuyết phục nhà vua hãy bỏ ý chí cứu nước, rồi chúng sẽ đưa nhà vua trở lại ngai vàng. Vua Duy Tân nói rõ ý muốn của mình:
 
– “Ta sẵn sàng trở lại ngai vàng, nhưng muốn ta trở lại, nước Pháp phải thi hành những điều khoản tự chủ của Đại Nam trong hòa ước 1884, nước Pháp bảo trợ cho nước Đại Nam, chứ không phải bảo hộ. Còn nữa, phải coi ta là một ông vua trưởng thành, trên ta không có hội đồng Phụ chánh. Pháp không được nhân danh ta làm những điều thuộc quyền của ta!”
 
Điều kiện của vua Duy Tân đưa ra là quá cao đối với bọn thực dân, vì thế chúng đã quyết định đày vua đến một nơi xa xứ là đảo Réunion tận bên trời châu Phi. Đến lúc vua sắp lên đường, bọn Pháp lại cho người đến ban một ân huệ cuối cùng. Tên tay sai Pháp thưa:
 
– “Thưa ngài, chúng tôi biết trong nội khố, ngài còn một số tiền lớn, ngài lại có một tủ sách tiếng Pháp rất nhiều. Ngài có cần lấy một ít tiền cầm tay và số sách để đọc dọc đường không?”
 
Vua Duy Tân ung dung đáp:
– “Ta làm gì có tiền, Tiền trong nội khố là tiền của dân đấy. Ta là người tù của Pháp, Pháp không nuôi được một người tù sao mà cần phải cầm tiền theo? Còn nếu người Pháp biết điều, muốn để cho tù nhân đọc sách, thì ngươi hãy lấy cho ta bộ sách cách mạng Pháp 1783 của Michelet và phải lấy cho đủ bộ!”
 
Tên tay sai đi gặp vua Duy Tân về trình bày lại với Pháp, bọn Pháp ngao ngán thở dài:
– “Không thể nào thỏa hiệp được với con người này nữa”
 
Sau đó, nhà vua vào Nam xuống tàu đi đày cùng một chuyến với vua cha Thành Thái sang đảo Réunion.
Năm 1936, mặt trận Bình Dân Pháp do Đảng Cộng sản và các đảng cánh tả ở Pháp thành lập, đã thực hiện nhiều cải cách tiến bộ, như phóng thích tù chính trị ở chính quốc và các thuộc địa. Cựu hoàng Duy Tân liền nắm lấy thời cơ để đề cập đến quyền tự chủ của đất nước. Ông dự cuộc mít tinh do Mặt trận Bình dân tổ chức tại cảng La Pointe des Galets, phát biểu tại diễn đàn, phía sau là lá cờ đỏ búa liềm. Ông yêu cầu Bộ trưởng Thuộc địa trả tự do cho mình, và được chuyển về sống tại Paris. Song yêu cầu này không được Chính phủ Pháp đáp ứng. Do bị sức ép của giai cấp tư sản và các thế lực cánh hữu cùng những biến động do phát xít Đức và Chủ nghĩa phát xít Ý gây ra, Mặt trận Bình dân phải tự giải tán, Chính phủ Bình dân đổ. Giấc mơ của cựu hoàng về độc lập dân tộc cũng bị dập tắt.
 
Năm 1939, đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngày 18/6/1940, cựu hoàng nghe được bản Hiệu triệu của Đờ Gôn – người đứng đầu phe kháng chiến. Trong 2 năm sau, ông liên lạc được với tổ chức Pháp Tự do ở trong vùng, và bị chính quyền thân Đức bắt giam một tháng. Mùa thu năm 1942, phái Đờ Gôn chiếm được đảo Reunion, để thoát khỏi đảo, ông tình nguyện làm điện báo viên trên tàu Léoperd. Do có sự can thiệp của Đờ Gôn, ngày 18/6/1945, cựu hoàng được đưa về Paris. Tại đây, ông có các cuộc đi thăm Việt kiều, thăm lính thợ bị giam ở Kelarman. Ông luôn luôn đả kích các lỗi lầm của Pháp ở Đông Dương.
 
Quan điểm yêu nước của cựu hoàng đi ngược lại với âm mưu sử dụng ông vào mục đích xâm lược Việt Nam. Vì vậy chúng đưa ông sang sư đoàn 9 bộ binh đóng ở Đức để chuẩn bị sang Viễn Đông tham chiến. Tại đây, các hoạt động nhằm mượn đường quân sự trở về nước của cựu hoàng cũng quá lộ liễu, bọn Pháp liền chuyển ông qua trung đoàn thiết giáp cũng đóng ở Đức để cách ly. Ngày 29/10/1945, Đờ Gôn ký Nghị định đặc cách cho cựu hoàng lên cấp tiểu đoàn trưởng. Đến ngày 14/12/1945, De Gaulle gặp cựu hoàng. Mục đích và nội dung cuộc gặp mặt nay đã được De Gaulle ghi rõ trong Hồi ký (Mémoires de Guerre, t.lll, Plon, Paris, tr.230), không có vấn đề gì được bàn cụ thể cả. Thế nhưng, sau khi gặp De Gaulle, cựu hoàng Duy Tân lại hiểu lầm và tuyên bố rằng chính phủ Pháp đã công nhận nền độc lập của Việt Nam, chờ cơ hội để ký kết việc thống nhất ba kỳ, viện trợ kinh tế và quân sự cũng như giúp Việt Nam về phương diện ngoại giao và quốc phòng. Cựu hoàng đáng thương không biết rằng ngày 3/12/1945, bộ Thuộc địa Pháp đã ký Quyết định số 7312/102 trả ông về lại đảo Reunion, tiếp tục cuộc sống lưu đày từ năm 1916.
 
Ngày 24/12/1945, cựu hoàng rời Paris trên chiếc máy bay Lockheed của hãng Réseau des Lignes Aériennes Françaises. Trải qua hai chặng bay đầu Paris-Alger và Alger-Fort Lamy an toàn, nhưng vào chiều 26/12/1945, trên chặng bay từ Fort Lamy hướng về Bangui, phi cơ hết xăng (!!!) phải hạ cánh khẩn cấp xuống một ngọn đồi vùng Lobaye gần làng Bossako cách M’Baiki 35km, lúc 6h30 chiều (giờ quốc tế). Chiếc Lockheed vỡ nát và bốc cháy. Phi hành đoàn và sáu hành khách khác đều tử nạn, kể cả cựu hoàng Duy Tân.
—————
Nguồn: Chuyện cổ Cố đô