Đời người phải lấy chữ Nhân làm đầu

Nhân” là phạm trù đạo đức của Nho gia và “từ” là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.
 
Chữ “nhân” của Nho gia theo nghĩa hẹp và cụ thể được Khổng Tử diễn giải cho các học trò của mình được sách vở ghi lại như sau:
 
Nhân là kìm chế mình để trở về với lễ (khi trả lời Nhan Hồi).
 
Nhân là điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (khi trả lời Trọng Cung).
 
Nhân là yêu người (Khi trả lời Phàn Trì).
 
Khổng Tử nói “có thể làm được năm điều dưới đây với thiên hạ là có nhân” đó là: Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, chăm chỉ siêng năng, ra ơn cho mọi người. Ngoài ra, ông nói: Người có nhân, muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt.
 
Tất cả câu trả lời trên đều cụ thể cho từng người, nội dung hàm chứa tính giáo dục con người cụ thể.
Sinh ra trong cõi hồng trần – Đời người phải lấy chữ Nhân làm đầu
Chữ “nhân” theo nghĩa hẹp rất rộng, do đó người nhà Nho sau này giải thích chữ “nhân” là lý của yêu thương, là đức của tâm hay là làm điều nhân là giữ toàn tâm đức v.v…
 
Theo nghĩa rộng, chữ “nhân” được Khổng Tử, Mạnh Tử xem như tư tưởng cốt lõi của Nho giáo (giáo ở đây không phải là tôn giáo, mà là giáo hóa con người).
 
Do đó đạo đức của Nho giáo cũng có thể gọi là đạo của chữ nhân, khi nói “nhân giả nhị nhân giả” (chữ “nhân” chiết tự ra gồm chữ “nhân” là “người” và chữ “nhị” là “hai”).
 
Nghĩa là: Nhân là mối quan hệ giữa người và người. Đây chính là mọi quan hệ của con người trong xã hội. Nếu xử lý hài hòa các mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự, trên dưới hài hòa, và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân chính là đạo làm người vậy.
 
Từ luận giải chữ “nhân” nghĩa rộng trên, chúng ta thấy mối quan hệ giữa người và người đầu tiên phải được xử lý, phải được quy phạm đó là con cái và cha mẹ.
 
Chúng ta ai cũng biết khi chào đời người gần gũi lo toan cho ta là đấng sinh thành (cha mẹ). Do đó, theo Nho giáo đây là mối quan hệ đặc biệt ưu tiên trong mọi mối quan hệ xã hội. Quy phạm về mối quan hệ này Nho giáo gọi là “đạo hiếu” (Theo Nho giáo, bách hạnh hiếu là đầu, làm người phải đặt chữ hiếu lên trên hết). Tiếp theo là mối quan hệ với anh em là chữ “đệ”, mối quan hệ với bạn bè là chữ “nghĩa”, mối quan hệ với vua là chữ “trung” v.v…
 
Từ đó triển khai ra các phạm trù đạo đức khác để tu thân, để rèn luyện đức tính con người: lễ, nghĩa, liêm, sỉ, trí, nhân (nghĩa hẹp), dũng v.v…Thật ra những phạm trù đạo đức nêu trên (trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v…) chỉ là tên gọi của các mối quan hệ hay những thái độ, cư xử, quan điểm, lẽ sống của con người trong xã hội.
 
Nhưng nội dung hàm chứa bên trong của nó tùy theo thời đại khác nhau lại có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ “hiếu” là một phạm trù đạo đức nói lên mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
 
Phạm trù này vĩnh viễn tồn tại trong mọi xã hội từ xưa đến nay và cả mai sau, nhưng nội dung của chữ “hiếu” thì theo từng thời đại khác nhau có những nội dung khác nhau.
 
Như ngày xưa hiếu là luôn vâng lời cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ, phải sinh con cái để nối dõi tông đường. Khi cha mẹ qua đời, con phải cư tang bằng hình thức sống quanh mộ đói rét ba năm không được đi đâu, không được vui vẻ để tỏ nỗi khổ đau thương nhớ mẹ cha…
 
Nhưng cũng có nhà Nho cho rằng “đại hiếu là làm rạng rỡ tông đường, kế đến là không làm gì nhục gia tông, thứ ba mới đến nuôi nấng cha mẹ”…
 
Còn ngày nay, chúng ta phải có nội dung phù hợp cho chữ “hiếu”. Chữ “trung” cũng thế, không thể giữ nội dung là trung với vua mà phải là trung với nước, trung với dân v.v…
 
Ngày xuân, có đôi điều mạn đàm về ý nghĩa chữ “nhân”, qua đó người viết hy vọng đưa ra được một nội dung rèn luyện đạo đức cá nhân cho mỗi người mà trong xã hội ngày nay dường như nhiều người đã quên lãng.
 
1. “Nhân” xét về mặt từ ngữ
Theo học giả Trần Trọng Kim, chữ Nhân (仁)gồm có bộ nhân (人)và bộ nhị (二) hợp lại thành một chữ hội ý, nghĩa là nói cái thể và cái đức chung của mọi người đều có với nhau như một.
 
Tương tự như vậy, học giả Phùng Hữu lan cũng cho rằng “ Chữ Nhân 仁 gồm bộ thủ nhân (biến thể của chữ nhân(人), nghĩa là nhân ghép với chữ nhị(二). Tức nó ngụ ý những phẩm chất đạo đức trong quan hệ giữa người với người. Ngoài ra, cũng dựa vào mặt từ ngữ này, người ta còn diễn tả chữ nhân này như sau: từ nhân có hai bộ, bộ nhân người (人)vào bộ nhị ( 二); nghĩa là có ít nhất hai người trong thế giới này, và nhân là cách sống với nhau hay cách đối xử với nhau
 
Như thế, xét về mặt từ ngữ của chữ “Nhân” từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể tóm kết ý nghĩa của chữ “Nhân” này như sau: Nhân là phương thế giúp người ta sống với nhau. Đó là cách hành xử bình đẳng trong quan hệ giữa ta và người. Nhân là đức tính nối kết ta với người thành một.
 
2. Khổng Tử quan niệm về nhân
Để hiểu được quan niệm của Khổng Tử về chữ “Nhân”, có lẽ chúng ta cần xét đến cách những người trước thời Khổng Tử đã bàn luận thế nào về Nhân. Đồng thời chúng ta cũng cần tìm hiều một chút bối cảnh xã hội trong thời ông sinh sống. Từ đó, chúng ta sẽ có cái hiểu đúng hơn về quan niệm chữ “Nhân” của Khổng Tử.
 
Trước hết, các học giả nghiên cứu về triết học và lịch sử Trung Quốc có quan điểm khác nhau về phạm trù “nhân” trước thời Khổng Tử. Một quan điểm cho rằng chữ nhân chưa hề được đề cập đến trong các tác phẩm trước thời Khổng Tử.
Trong khi đó, một quan điểm khác lại nghĩ rằng thực ra người ta đã từng nói về chữ nhân trong một vài tác phẩm trước đó; chẳng hạn như trong hai thiên “ Thục vu điền” và “Lư linh” của Kinh Thi, hay trong thiên ‘Kim Đằng” của Thượng Thư đều đã đề cập tới chữ “Nhân” . Tuy vậy, chữ “Nhân” ở đây chỉ có ý nghĩa chính là “tình thương”. Hơn thế nữa, quan niệm này còn cho rằng chữ nhân đã phát triển thành triết lý, được coi như tiêu chuẩn tối cao trong hành vi của con người lại là sáng kiến của Khổng Tử.
 
Từ đây chúng ta có thể phần nào biết rằng, nếu chữ nhân đã được sử dụng trong các tác phẩm cổ điển trước thời Khổng Tử thì nó cũng chỉ mang ý nghĩa rất sơ sài và hạn hẹp. Chỉ đến thời Khổng Tử, chữ Nhân ấy mới được ông bổ sung và mặc cho nó nó những ý nghĩa mới, biến nó trở thành tâm điểm, thành cái bản chất nhất trong bản tính con người. Vậy, Khổng Tử đã quan niệm thế nào về phạm trù Nhân?
 
Sống trong thời điểm xã hội đang bị suy hoại về đời sống: vua chúa không đảm nhận đúng vai trò của mình; chư hầu, quần thần nổi loạn khắp nơi; dân chúng thì sống trong sự khốn khó, và băng hoại về đạo đức, chắc hẳn Khổng Tử đã có nhiều băn khoan và trăn trở đối với dân tình và quốc gia. Có lẽ tất cả những ưu tư này đã phần nào hình thành nên tư tưởng của ông liên quan đến giáo dục và chính trị, cụ thể ở đây là đức nhân.
 
Đối với Khổng Tử, Nhân trước hết là sự biểu lộ của thiên đạo trong đời sống con người. điều này ông giả định rằng trong con người phải có cái gốc Nhân nơi bản tính của mình, mà cái gốc Nhân ấy chính là cái con người đón nhận từ Thiên mà có. Nói khác đi, trong quan niệm của Khổng Tử, Nhân chính là Đạo, là mệnh. Cái đạo hay mệnh ấy có suy có thịnh hay không thì lại do chính thiên mệnh quyết định: “Đạo chi tương hành dã hựu, mệnh dã”. Và từ quan niệm chính Thiên phú bẩm đạo đức cho con ngươi trên, ông cho rằng chẳng có ai có thể tước đoạt được cái đạo ấy, cũng như nếu người nào không có cái đạo ấy thì không đáng được gọi là người quân tử. Do đó, người quân tử phải là ngưởi kính sợ thiên mệnh, kính sợ đại nhân và thánh nhân – là những người đã thuận theo thiên mệnh, là những người đã thể hiện đạo. Như thế, có thể nói đối với Khổng Tử, ông cho rằng Nhân chính là cái mà con người được nhận lãnh tử Thiên. Thế nên, điều quan trọng để có được Nhân là hành động theo như mệnh chỉ bảo, không quan tâm tới sự thành bại bên ngoài.
 
Hơn nữa, Khổng Tử không chỉ cho Nhân là cái thiên mệnh, là đạo mà con người lãnh nhận được từ trời, ông còn cho rằng Nhân là cái vốn đã có sẵn trong con người. Bởi lẽ con người vốn có sẵn môt tiềm năng tự nhiên để trở nên tốt, nên thiện. “Nhân viễn hồ tai? Ngã dục nhân, tư nhân chí hĩ” (điều nhân vốn có xa gì ta, ta muốn thì nó đến). Tuy nhiên, vì cái Nhân vốn đã tồn hữu sẵn trong con người nhưng nó chưa được tỏ lộ cách rõ ràng. Nó cần được trải qua tu dưỡng rèn luyện và thực hành thì Nhân trong con người mới sáng lên. Đến lúc đó, Nhân mới có thể được tỏ hiện ra bên ngoài.
 
Vì lẽ đó, ta hiểu được tại sao Khổng Tử nói rằng: “tính tương cận, tập tương dã”. Bản tính con người lúc đầu vốn rất gần nhau, nhưng chính do sự giáo dưỡng, tiếp xúc và thực tập mà dần trở nên xa nhau. Ngoài ra, ông còn nói cho rằng: “chỉ cần không oán thiên, không trách cứ người khác, có chí học tập, dưới học nhân sự, trên đạt thiên mệnh”. Như thế, có thể tóm lại rằng Khổng Tử quan niệm về chữ Nhân có tính hai chiều. Một đàng khi con người để cho thiên chi phối, thuận lòng mình theo ý thiên thì có được Nhân. Đàng khác, con người có thể sở đắc được Nhân qua việc tu dưỡng, rèn luyện của bản thân. Nói rõ hơn, Nhân chính là thành quả, của sự chịu khó làm lụng “Nhân giả tiên nan nhi hậu hạnh, khả vị, nhân hĩ”.
 
Ngoài ra, nếu xét quan niệm của Khổng Tử trong một phạm vi lớn hơn là xã hội, ta thấy ông còn bàn luận về nhân chính là lòng thương người. Nói đúng hơn, Nhân theo ông là một đức tính bao quát tất cả đạo lý. Quả vậy, theo học giả W. T. Chan, Chính Khổng Tử là người đầu tiên đã nói về chữ nhân như là nhân đức phổ quát, là toàn đức (general virtue). Với ý nghĩa chữ Nhân theo nghĩa rộng này, ta thấy Nhân đã chi phối toàn bộ tư tưởng triết học của Khổng Tử nói riêng và của Nho giáo sau này nói chung.
 
Quan niệm của ông về Nhân không chỉ dừng lại ở việc tu luyện, giáo dưỡng bản thân cho thành danh thành tài, Nhưng Nhân phải hệ ở tại “phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”, đồng thời “sở kỷ bất dục vật thi ư nhân” – Phàm là người nhân thì khi mình muốn tự lập tự cường thì mình cũng khao khát cho người khác được như thế; mình muốn thành đạt thì cũng cầu mong sao cho tha nhân được thành đạt; và ngược lại, điều gì mình không muốn, không thích thì cũng là điều mà mình cần tránh gây ra cho người ta. Chính vì quan niệm Nhân như thế, Khổng Tử đã từng ví von những người bất nhân tương tự như chứng bệnh tê “ma độc bất nhân” để diễn tả những người không có khả năng cảm thông và liên đới với người khác bằng tình yêu.
 
Tuy nhiên, khi Khổng Tử nói Nhân đòi hỏi phải yêu người, quý người nhưng điều đó không có nghĩa là ông chủ trương yêu tha nhân cách “mù quáng”. Đối với ông, việc yêu người còn phải có sự phân biệt thị phi, thiện ác. Ái nhân của ông không hàm nghĩa “ái vô sai đẳng”, nhưng là yêu người nào đáng yêu và ghét người nào cần ghét[12]. Tuy nhiên, trong cái ghét ấy của ông cũng cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa người làm điều xấu và việc làm xấu. Chính vì thế, khi ông nói cần ghét những người làm điều xấu nhưng không phải vì vậy mà ông “loại trừ” hay ghét bỏ họ cho bằng ghét những hành vi xấu xa của họ. Do đó, ông luôn chủ trương “giáo hóa vô loài”, nghĩa là ông không có sự phân biệt thị phi người xấu kẻ tốt; và như thế, chữ “Nhân” của ông không chỉ mang ý nghĩa là yêu người mà còn là hoàn thiện người
 
Nói tóm lại, xét về quan niệm Nhân của Không Tử, chúng ta có thể thấy ông bàn vể Nhân dưới hai phương diện. Một đàng, chữ Nhân ấy được hiểu theo mối tương quan chiều dọc giữa người với thiên; đàng khác, nó cũng được hiểu theo mối liên hệ chiều ngang giữa người với người. Từ quan niệm về Nhân như thế này, Khổng Tử đã “mặc” cho Nhân một ý nghĩa mới có tính toàn vẹn vào bao quát các nhân đức của con người.
 
Sưu tầm