Cảm nghĩ và ký hiệu khi lập Gia Phả

Gia Phả Dòng Tộc trân trọng giới thiệu cách viết Cảm nghĩ và cách hiểu ký hiệu trong cuốn Gia Phả họ Hồ ở Huyện Củ Chi, Sài Gòn. Quý bạn đọc cũng nên ghi chú để còn bổ sung vào cuốn Gia phả của mình sau này.

Gia Phả Dòng Tộc
Gia Phả Dòng Tộc – website hướng dẫn bạn cách làm Gia Phả

Kể từ năm 1980, Anh tôi là Hồ Văn Hỉ sau khi lập xong Gia phả bên ngoại tôi thì anh Hai Hỉ muốn lập tiếp Gia phả bên Nội, ý anh muốn lập từ đời Ông bà Sơ trở lại đây, nhưng gặp trở ngại lớn là quá lâu đời, nên con cháu đều không nhớ rõ hết họ tên Ông Bà. Nên sau cùng chỉ có thể lập được từ Ông bà Nội trở lại đây mà thôi.

Thừa kế việc làm dở dang nầy, tôi Hồ Công Tước cùng các cháu Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Tấn Lập và Nguyễn Văn Lô nguyện sẽ hợp lực cùng số anh chị em trong thân tộc tiếp tục sưu tầm lại cho có hệ thống và ước nguyện sẽ được anh chị em cùng bậc tận tình giúp đỡ.

1- Nếu bắt nguồn tức là tâm nguyện từ đời Ông bà Sơ chúng mình là 3 đời, vì lâu quá, những vị cao niên đã qua đời, không còn ai để tham khảo, vậy nên:
2- Chỉ có sưu tập liên hệ thân thuộc với nhau cho đến ngày nay qua Ông bà Nội.
3- Để tiện hiểu biết sự liên hệ nư thế nào, nên mỗi Chi, mỗi người đều có 1 ký hiệu riêng, để khi nói ra thì người khác có thể hiểu được rằng mình thuộc chi nào, con, cháu bậc mấy
4- Về ký hiệu: vì sanh trưởng ở Miền nam VN, con đầu lòng là thứ ( 2 ) không có con cả như ở miền bắc hay miền trung VN, nên ký hiệu không có mang số ( 1) vì không có số 1 nên phải đọc số tiếp, thí dụ: số 11,12 có nghĩa là con thứ 11, thứ 12 hoặc út thứ 11, út thứ 12.

Thí dụ: Ký hiệu 2.2 là thuộc chi của cô hai Hồ Thị Nhuộm và con lớn là chị Hai Trỉ
Ký hiệu 2.6.8 thì hiểu như sau: số 2 đầu là cô Hai Nhuộm, số 6 là anh 6 Lặt và là con thứ 6 của cô 2 Nhuộm, số 8 chót là 8 Cảnh và là con thứ 8 của anh 6 Lặt.
Ký hiệu 4.5.3.2 thì hiểu như sau: số 4 đầu là cô 4 Hồ Thị Mai, số 5 là anh 5 Kìa và là con thứ 5 của cô 4 Mai, số 3 là 3 Hiển và là con thứ 3 của anh 5 Kìa, số 2 chót là cháu Diệu Hiền và là con lớn ( thứ 2) của 3 Hiển.
Ký hiệu .6.2.6 thì hiểu như sau: số 6 đầu là bác 6 Hồ Văn Phiện, số 2 là chị 2 Triên và là con lớn thứ 2 của bác 6 Phiện, số 6 chót là 6 Hội và là con thứ 6 của 2 Triên.
Ký hiệu 9.4.7 thì hiểu như sau: số 9 đầu là cô 9 Hồ Thị Buồn, số 4 là tư Ý và là con thứ 4 của cô 9 Buồn, số 7 chót là cháu Phúc và là con thứ 7 của tư Ý.
Ký hiệu 10.2.2 thì hiểu như sau: số 10 đầu là cô út 10 Hồ Thị Lốc, số 2 kế là Rựng và là con thứ 2 của cô út 10 Lốc, số 2 chót là cháu 2 Hiếu và là con thứ 2 của 2 Rựng.

Nói chung không có ký hiệu nào trùng với nhau, nếu 2 hay 3 con số đầu giống nhau là bà con gần nhứt.
Anh chị nào hiểu được ký hiệu nầy, xin giải thích lại cho người chưa hiểu để thông suốt với nhau trong thân thuộc họ hàng.

Tính ra từ đời Ông bà Nội trở lại đây thì con cháu cũng khá đông nhưng vì ở rải rác nhiều nơi tìm phương sanh kế ít khi được gần gũi bên nhau.
Mong rằng sự sưu tập lại Gia phả nầy là dịp chúng ta tầm nguyện, tìm lại nguồn gốc để cùng nhau đoàn kết trong tinh thần gia tộc.

Tiếp tục lập lại Gia phả từ năm 1990 mãi cho đến hôm nay 1998 chỉ mới lên được cái sườn, đi sâu thêm vào cội nguồn thì thật là khó khăn và phức tạp. vậy đề nghị các chi có trách nhiệm đóng góp và bổ sung vào Gia phả nầy mới có thể hoàn chỉnh được hầu lưu lại đời sau cho con cháu chúng ta mới biết cội nguồn của chúng ta.

Gia phả nầy sao làm 6 bộ, giao cho mỗi chi giữ 1 bộ.
1- Chi cô 2 Nhuộm giao cho cháu 8 Cảnh
2- Chi cô 4 Mai giao cho cháu 7 Lập
3- Chi bác 6 Phiện giao cho cháu 8 Rõ
4- Chi chú 7 Phòng giao cho cháu 2 Xuân
5- Chi cô 9 Buồn giao cho cháu 4 Lô
6- Chi cô út 10 Lốc giao cho cháu 3 Ru

Người chỉnh bản chính in ấn: Nguyễn Tấn Minh tự Hai Tược ( Chi thứ 9) tại phường 24 Quận Bình Thạnh. Ngày 3 tháng 2 – 1999.