Cách viết Phả Ký – Họ Trần Quang

Trong lịch sử văn hóa của dòng họ và gia đình ở Việt Nam, Gia phả được coi như một di sản văn hóa quý giá là gia bảo dòng tộc, gia bảo quốc gia. Không chỉ là cơ sở để các dòng họ tìm về gốc rễ, chắp nối cội nguồn, mà còn để củng cố gia tộc, gia đình và giáo dục đạo đức cho con cháu, nơi gửi gắm ý nguyện của cha ông với con cháu. Nhà có Gia phả như Nước có quốc sử, gia phả các dòng họ là nguồn bổ sung tư liệu quý giá, dồi dào cho quốc sử. Dòng họ là tế bào của dân tộc, sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là kết quả hội tụ sức mạnh của các dòng họ. Việc xây dựng Gia phả dòng họ Trần Quang là một viêc làm cần thiết, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc đó.

* Khởi thủy, Tổ quán và sự phát triển dòng họ Trần Quang :
An Xá năm xưa sinh lá Ngọc
Xuân Trúc ngày nay nở Cành vàng

Trưởng tộc: Trần Trọng Thủy

Gốc tích họ Trần Quang, khu Xuân Trúc, thị trấn Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình ngày nay là họ Nguyễn, xưa ở làng An Xá, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Ông Tổ (chữ Hán Nôm là: Thủy tổ) của dòng họ Trần Quang là cụ Nguyễn Phúc Đạt, bà Tổ là cụ Hoàng Thị Ngự (thứ thất). Cụ Nguyễn Phúc Đạt có cha đẻ (chữ Hán Nôm là: Thái thủy tổ) là cụ Nguyễn Phúc Đức và mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Khoát, hai cụ sinh thành và xây cơ lập nghiệp tại làng An Xá, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Cụ Nguyễn Phúc Đức (không nhớ năm sinh), mất ngày 19/6 Âm lịch, mộ táng tại xứ đường 3, làng An Xá; cụ bà Nguyễn Thị Khoát (không nhớ năm sinh), mất ngày 30/2 Âm lịch, mộ an táng tại đồng Hội, làng An Xá, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Ông Tổ – Cụ Nguyễn Phúc Đạt sinh được 09 người con với hai cụ bà Nguyễn Thị Minh (chính thất) và cụ Hoàng Thị Ngự (thứ thất). Không nhớ mỗi cụ bà sinh được mấy người con, chỉ nhớ tên người con trai trưởng là Nguyễn Văn Ất và người con trai út là Nguyễn Văn Chín.

Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, cũng như những người nông dân, gia đình cụ Nguyễn Văn Ất rất nghèo túng, song thân thì mất sớm, chỉ còn một kế Mẫu là cụ Hoàng Thị Ngự và anh, em của cụ. Cụ rất thông minh, lại có sức khỏe; cụ rất căm phẫn bởi sự bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến, nên đã cùng với một số trai tráng trong làng lên cư trú làm ăn tại vùng Yên Thế Thượng, tỉnh Bắc Giang. Nơi đây là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá, dân cư chủ yếu là nông dân lưu tán, hoặc bị chính quyền phong kiến truy đuổi. Đây cũng là nơi tá túc nhiều toán giặc Khách, thường xuyên cướp phá. Để chống lại ách áp bức, truy bắt của chính quyền, cũng như chống lại sự cướp bóc của giặc Khách, những người nông dân nơi đây trong đó có nhóm trai làng An Xá của cụ Ất đã phải lập các đội vũ trang tự vệ, những làng chiến đấu, công khai chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Khi thực dân Pháp đến bình định vùng này, các đội vũ trang tự vệ cũng chống lại quân Pháp như chống lại triều đình nhà Nguyễn trước đó để bảo vệ miền đất tự do của họ.

Vào cuối thế kỷ XIX, bùng nổ khởi nghĩa Yên Thế, khởi nguồn từ vùng Yên Thế Thượng là một cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông dân với quân Pháp, họ đã trở thành nghĩa quân dưới ngọn cờ của người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám (người huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên). Do lực lượng còn non trẻ, thiếu cộng tác với phong trào chống Pháp khác tại Việt Nam lúc đó nên sau gần hai thập kỷ, cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Hầu hết các tướng lĩnh đều hy sinh hoặc sa vào tay giặc, người thân của các nghĩa quân bị chính quyền thực dân phong kiến đàn áp, trả thù giã man (tài liệu kỷ niệm 130 năm ngày Khởi nghĩa Yên Thế của sở VHTT tỉnh Bắc Giang).

Việc tham gia Đội vũ trang chống giặc Khách và chính quyền phong kiến, rồi sau này chống thực dân Pháp tại vùng Yên Thế Thượng của cụ Nguyễn Văn Ất và một số trai làng An Xá có nguy cơ bị chính quyền truy nã, chu di tam tộc. Để bảo toàn giòng giõi, những người thân của cụ Ất phải phiêu bạt mỗi người một nơi, trong đó có kế Mẫu của cụ Ất là cụ Hoàng Thị Ngự bồng người con trai Nguyễn Văn Chín (là em trai út của cụ Ất) sang thôn Xuân Trúc lập cư, đổi tên họ từ Nguyễn sang Trần, theo đó cụ Nguyễn Văn Chín đổi tên là Trần Quang Chín, từ đó có họ Trần Quang ngày nay.

Ngày cụ Nguyễn Văn Ất tạm biệt quê hương, gia đình ra đi lên vùng Yên Thế Thượng năm ấy là ngày 12/2, cũng từ ngày đó không thấy cụ về nên hằng năm, họ Nguyễn tại quê hương làng An Xá, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên lấy ngày 12/2 làm ngày giỗ của cụ.

Như vậy, những biến cố lịch sử dân tộc vào những thời điểm: Giữa thế kỷ XIX; và cuối thế kỷ XIX nêu ở trên đã ảnh hưởng, tạo dấu ấn sâu sắc đến việc đổi tên họ Nguyến Văn thành họ Trần Quang cũng như sự phát triển của dòng họ chúng ta trong giai đoạn khởi thủy.

Về cụ Hoàng Thị Ngự, những năm tháng vất vả, một mình lao động, bươn trải để nuôi con khôn lớn, trưởng thành, xây dựng gia đình cho người con trai, để có các thế hệ đông đúc, sống quây quần trên vùng đất quê hương Xuân Trúc- nơi quê cha đất tổ của chúng ta. Do tuổi cao, sức yếu- theo quy luật sinh tồn, đã mất ngày 5/11 Âm lịch. Theo tập quán lâu đời của dân tộc và để đời đời ghi nhớ công lao trời biển của bậc thủy Tổ, ngày mất của cụ – 5/11 Âm lịch đã trở thành ngày giỗ Tổ dòng họ Trần Quang hằng năm.

Về Tổ quán của dòng họ, cũng như các miền quê thuộc vùng Đồng bằng bắc bộ, làng Xuân Trúc có dòng sông Luộc là nhánh của sông Hồng bao quanh, mang phù sa bồi đắp cho ruộng, đồng và là mốc giới giữa hai tỉnh Thái Bình- Hưng Yên, giao thông đường thủy thuận tiện cho việc giao lưu, buôn bán. Cộng đồng gồm nhiều dòng họ như: Họ Nguyễn, Trần, Phạm, Vũ, các thế hệ hậu duệ của các dòng họ trải qua hàng thế kỷ ở xen kẽ nhau, luôn đoàn kết, xây dựng tình làng, nghĩa xóm tốt đẹp.

Từ cổ xưa đến nay, dân làng chủ yếu tín ngưỡng thờ cúng ông bà. Có chức Từ đình và Tự chùa cúng lễ, trông coi, tu bổ đình, chùa. Đình làng thờ vị tướng Vân Vụ của triều đình nhà Lý, có công với nước, với dân; được Bộ Văn hóa thông tin cấp bằng di tích lịch sử. Ngày nay, hằng năm, vào tháng Hai Âm lịch, tại sân đình vẫn tổ chức hội Làng theo nghi lễ truyền thống, con cháu dù đi đâu cũng nhớ và về dự.

* Về hôn nhân gia đình:
Trải qua các thời kỳ và tính chất của mỗi chế độ xã hội, đại đa số những cô dâu, chú rể các đời, sống hài hòa, dâu hiền rể thảo, duy trì tốt quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân; đoàn kết gây dựng hạnh phúc gia đình, dòng tộc.

Trước đây, cũng như các dòng họ trong làng, họ Trần Quang thường lấy vợ, gả chồng người cùng làng. Các thế hệ cư trú quây quần, làm ăn, sinh sống, xây dựng làng xóm. Do sự phát triển của xã hội, từ đời thứ 6 đến nay, nhiều người đi công tác xa, làm ăn và xây dựng gia đình, cư trú khắp các vùng miền trên cả nước.

Trong xã hội phong kiến, chế độ đa thê, việc lấy vợ gả chồng thường là bố mẹ đặt đâu, con ngồi đấy, ít điều kiện được tìm hiểu yêu, thương. Ngày nay, Luật hôn nhân và gia đình tiến bộ, có tự do, bình đẳng cao hơn trước đây, nhưng cuộc sống đa chiều, nhu cầu cao hơn của mỗi chủ thể con người cũng nẩy sinh nhiều mặt trái. Vì vậy việc giáo dục, nâng cao gia trị tình cảm gia đình truyền thống là điểm tựa cho sự bền vững của gia đình hiện đại. Đây cũng là mong muốn của cha ông, đã và đang được thế hệ trẻ dòng họ ý thức được và phấn đấu thực hiện.

Bảng thống kê

Bảng thống kê nhân khẩu ghi trong cuốn Gia Phả dòng họ
Bảng thống kê nhân khẩu ghi trong cuốn Gia Phả dòng họ

Số liệu và thay đổi nhân khẩu dòng họ (10 đời)

Chi Số nhân khẩu Nam Nữ Còn sống Đã mất Ghi chú Chi 1 Chi 2 Chi 3 Cộng (Hiện tại chưa tổng hợp được)

* Về mối quan hệ văn hóa, tín ngưỡng:
Từ giai đoạn khởi thủy đến nay, các gia đình trong dòng họ đều có bàn thờ tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên chăm sóc tạo phúc đức cho con cháu. Có ý thức bảo vệ, cung tiến vật chất để tu bổ đình, chùa, các di tích lịch sử và những giá trị đạo đức, văn hóa của làng, xã.

Những ngày lễ, tết, việc tổ chức giỗ Tổ vào ngày 5/11 Âm lịch hằng năm, các thế hệ con cháu đều về thăm ông, bà, bố mẹ, quê hương theo truyền thống “Uống nước, nhớ nguồn”, và để ôn lại gốc tích, lịch sử của dòng họ. Tuy chưa thành văn bản, nhưng trở thành hương ước từ đời xưa để lại, trong họ có việc mừng thọ cho các lão niên hay dựng vợ, gả chồng cho con cháu, các gia đình đều được mời và đến dự chung vui. Gia đình nào có tang gia đều tổ chức thăm hỏi, phúng viếng chia buồn.

Trước đây những người trong họ từ trần, thường được an táng quanh khu Trung Thành Vương, khu Mả Thái và một số khu đất quanh làng Xuân Trúc. Gần đây, với đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn” và để giữ gìn, tu bổ mồ, mả của những người đã khuất, gia tộc họ Trần Quang đã thống nhất đóng góp theo xuất đinh (người con trai của dòng tộc), một số gia đình ủng hộ tiền để xây khu lăng mộ của dòng họ tại Trung Thành Vương. Hiện nay đang tiến hành xây dựng bản “Quy ước sử dụng, tu bổ khu nghĩa trang” để xin ý kiến các gia đình, sẽ được hoàn chỉnh thực hiện trong thời gian tới.

Hiện nay, bàn thờ Tổ được đặt trang trọng tại gian thờ, nhà của cụ Trần Trọng Thủy (nguyên là trưởng tộc họ Trần Quang), do ông bà Trần Đăng Phong đời thứ 8 – Trưởng tộc chăm sóc hương khói. Những kỳ, cuộc hay bàn việc của dòng họ đều tiến hành tại địa điểm này. Phương hướng thời gian tới là: Các thế hệ con con cháu cần chung sức để xây dựng khu nhà thờ Tổ khang trang, để nơi đây thực sự trở thành bảo tàng giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

*Về lao động thể hiện chức năng kinh tế của các gia đình.
Truyền thống cần cù lao động, học tập và ý chí vươn lên trong cuộc sống cũng là một đặc điểm lớn của dòng họ.

Làng An Xá, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, cũng như thôn Xuân Trúc, thị trấn Hưng nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đều có nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, cấy lúa nước, trồng cây đay, dệt chiếu, đan võng. Các tiền nhân đã khắc phục khó khăn, từ hai bàn tay trắng để tạo lập được ruộng, vườn, nhà cửa, tuy không phải giầu có nhưng cũng có tài sản thừa kế cho con cháu sinh sống, nuôi dạy con cái lên người. Ngày nay, ngoài việc làm nông nghiệp, một bộ phận thuộc đời thứ 7, thứ 8, nhiều người có nghề nghiệp, tay nghề, kinh doanh ổn định tại khắp vùng miền của đất nước, bảo đảm tốt cuộc sống vật chất cho hiện tại và tích lũy cho thế hệ mai sau.

* Về các mối quan hệ yêu nước và xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dòng họ:

Đặc điểm lớn nhất của dòng họ là tinh thần yêu nước, có bậc tiền bối tham gia nghĩa quân nông dân chống chế độ phong kiến tay sai của thực dân Pháp. Sau này, đời thứ 6, đời thư 7 và đời thứ 8, hầu hết những người con trai của dòng họ đã tham gia du kích, đi bộ đội chiến đấu chống thực dân, đế quốc, nhiều gia đình được Nhà nước công nhận và trao tặng danh hiệu Gia đình vẻ vang, nhiều người được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến các loại; có 3 người con hy sinh được Nhà nước phong tặng danh hiệu liệt sỹ: Trần Cương Mã, Trần Quang Bảo, Trần Quang Vượng. Trong hòa bình, xây dựng đất nước, nhiều người là công chức, viên chức nhà nước, cán bộ lực lượng vũ trang phục vụ xã hội. Dù ở bất cứ vùng đất nào, đơn vị công tác nào, nghành nghề gì đều đoàn kết, nhân ái, xây dựng, giúp đỡ nhau và chấp hành đường lối, pháp luật Nhà nước, các quy định của địa phương.

* Phương hướng xây dựng dòng họ:
Vai trò của gia đình và tính chất gia tộc được đánh giá cao trong văn hóa Việt Nam. Ý thức duy trì truyền thống văn hóa Việt Nam, biết tiếp thu cái mới phù hợp, đảm bảo chức năng của mỗi gia đình hiện đại, khắc phục những yếu kém của dòng họ và nâng dần lên. Yếu tố giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ hiện nay, trách nhiệm thuộc về chính gia đình bố mẹ.

Những cống hiến cho quê hương, cho xã hội và nhân cách sống của các bậc tiền nhân là niềm tự hào, là sức mạnh tinh thần, luôn đồng hành cùng bước đường lập nghiệp, tiến thân của hậu duệ, để tiếp tục làm lên những kỳ tích, viết lên những trang gia phả đầy tự hào của dòng họ Trần Quang trong tương lai; góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày một thịnh vượng văn minh./.